Hiển thị các bài đăng có nhãn giai doan mang thai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giai doan mang thai. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2015

Ảnh hưởng của folate trong 40 tuần thai

Ảnh hưởng của folate trong 40 tuần thai là rất lớn. Nếu thiếu folate, mẹ bầu thiếu thành phần này trong thai kỳ thì nguy cơ thai nhi bị khuyết tật ống thần kinh là rất lớn.

Folate (hay axít Folic) là vitamin B9. 




Đây là một dạng vitamin hỗn hợp nhóm B hòa tan trong nước. Folate có nhiều trong các loại thịt đỏ, gan, lòng đỏ trứng và rau có màu xanh đậm (rau muống, rau bó xôi, súp lơ, bông cải xanh…), các loại ngũ cốc và đậu (đậu đũa, đậu xanh, đậu tương, đậu Hà Lan…). Loại vitamin này không những rất cần thiết cho quá trình tạo và duy trì tăng trưởng của mọi tế bào mà còn rất cần thiết để tạo DNA và RNA (các khối xây dựng của tế bào) và ngăn ngừa những thay đổi DNA có thể dẫn đến ung thư.

Phụ nữ mang thai rất cần Folate.

Dù cả người lớn và trẻ em đều cần Folate để đảm bảo lượng hồng cầu, ngăn ngừa bệnh thiếu máu nhưng theo các nghiên cứu khoa học, phụ nữ mang thai (hoặc dự định mang thai) luôn cần lượng Folate nhiều gấp 1,5 lần so với lúc bình thường. Theo thống kê của Viện dinh dưỡng quốc gia thực hiện năm 2005, 63% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại Việt Nam có hàm lượng Folate trong máu thấp dưới mức tối ưu để phòng ngừa khiếm khuyết ống thần kinh ở thai nhi là 905 nmol/L. Điều này cho thấy nguy cơ mắc phải khiếm khuyết ống thần kinh (NTD) sẽ vào khoảng 12 trẻ/10.000 trẻ được sinh ra. Đó là chưa kể việc thiếu Folate ở phụ nữ mang thai còn khiến thiếu máu hồng cầu ở mẹ, dẫn đến nguy cơ sinh non, sinh con nhẹ cân và sẩy thai.

Folate ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành ống thần kinh của thai nhi.

Giáo sư – Tiến sĩ Tim Green, nhà nghiên cứu khoa học hàng đầu thế giới chuyên về Folate và các vitamin nhóm B đến từ Đại Học Otago (New Zealand) cho biết: “Thiếu hụt Folate trong quá trình mang thai sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển não bộ của trẻ, tác động tiêu cực đến sự phát triển nhận thức và hệ thần kinh vận động của trẻ sau này”. Đặc biệt trong giai đoạn từ ngày thứ 21 – 27 sau khi thụ thai, nếu không cung cấp đủ hàm lượng Folate dẫn đến ống thần kinh đóng không hoàn thiện, trẻ sẽ có nguy cơ bị khiếm khuyết ống thần kinh. Do đó, trước khi có thai hoặc trong suốt giai đoạn đầu của thai kỳ, các thai phụ nên bổ sung Folate đầy đủ thể giảm nguy cơ khiếm khuyết ống thần kinh ở trẻ.

Chính vì thế, các mẹ hãy chú ý dinh dưỡng cho bà bầu để bổ sung Folate.

Folate giúp phát triển trí não trẻ từ trong bụng mẹ.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng những bà mẹ bị thiếu máu ít tương tác tích cực với con cái của họ, do đó ảnh hưởng xấu đến phát triển nhận thức của bé. Điều này xuất phát từ việc thiếu Folate, bởi đây là chất dinh dưỡng quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe của người mẹ và ảnh hưởng trực tiếp đến cách người mẹ tương tác với em bé sau khi sinh. Vì vậy, đối với phụ nữ mang thai thì cần bổ sung 600mcg Folate mỗi ngày, còn đối với phụ nữ đang có kế hoạch mang thai thì cần bổ sung 400mcg Folate mỗi ngày từ 24 tuần trước mang thai thay vì 16 tuần như trước đây.

Bổ sung Folate – không chỉ bằng ăn uống.

Chế độ ăn uống thông thường khó đảm bảo cung cấp đủ lượng Folate cần thiết cho cơ thể, vì vậy chế độ dinh dưỡng cho bà bầu thường được bổ sung các loại thực phẩm có bổ sung Folate với hàm lượng Folate cao. Hiện nay, sản phẩm Anmum Materna™ là sữa dành cho phụ nữ mang thai và cho con bú đầu tiên được thử nghiệm lâm sàng giúp làm tăng hàm lượng Folate cùng 30 dưỡng chất quan trọng khác như DHA, Ganglioside, FOS… giúp cơ thể và trí não bé phát triển hoàn thiện. Với hai ly sữa Anmum Materna™ mỗi ngày, mẹ và bé sẽ được cung cấp 680mcg Folate (đáp ứng đủ 100% nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của Bộ Y Tế), 80% nhu cầu can-xi, 30% nhu cầu sắt và các dưỡng chất cần thiết khác, giúp mẹ có một thai kỳ khỏe mạnh và thai nhi phát triển tròn vẹn.

Nguồn: 5 điều chưa biết về Folate

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Phòng bệnh phụ khoa khi chuẩn bị mang thai

Cùng nhận biết một số bệnh phụ khoa thường gặp để phòng tránh nhằm giúp bà mẹ và thai nhi khỏe mạnh trong 40 tuần thai kỳ.

Tại sao mẹ cần phải giữ vệ sinh phụ khoa trong giai đoạn chuẩn bị mang thai


Trên thực tế, các mẹ chuẩn bị mang thai đều đồng ý rằng đã xem nhẹ và ít chú ý đến vấn đề này. Vì thế, khi bước vào thai kỳ và sau khi sinh, mẹ và con có thể gặp phải một số bệnh mà nguyên nhân đến từ sự chủ quan đối với vấn đề vệ sinh vùng kín.

Nếu mẹ bị viêm nhiễm vùng kín thì có khả năng truyền sang con như trường hợp ở bệnh sùi mào gà. Các mẹ chuẩn bị mang thai mắc bệnh này do vệ sinh vùng kín không đúng cách, từ đó không kịp chữa trị trong quá trình mang thai do e sợ sẽ thương tổn đến thai nhi. Đến khi sinh thì nấm tràn vòm họng con và con không thể ăn được. Một số bệnh viêm nhiễm phụ khoa khác còn để lại hậu quả nghiêm trọng hơn cho mẹ và con như ảnh hưởng đển khả năng rụng trứng và thụ thai của bố mẹ, viêm màng ối, đẻ non, hoặc sảy thai. Vì thế trong thời gian chuẩn bị mang thai, các mẹ cần chú ý nhiều hơn đến cách vệ sinh vùng kín để đảm bảo cho con phát triển khỏe mạnh.

Dấu hiệu để nhận biết bệnh phụ khoa

Trong thời gian mẹ chuẩn bị mang thai, mẹ nên chú ý một số dấu hiệu của bệnh phụ khoa sau để kịp thời đến tư vấn bác sĩ. Nếu những mẹ nào bắt đầu đi tiểu thường xuyên và cảm thấy xót ở vùng kín thì đây cũng là dấu hiệu đáng chú ý đấy. Ngoài ra, âm đạo cũng bị sưng tấy, nổi sần sùi và đỏ tấy phía bên ngoài, gây cảm giác ngứa ngấy, khó chịu và đau rát thì các mẹ nên đến gặp bác sĩ phụ khoa để kiểm tra ngay nhé. Thậm chí khi bước vào giai đoạn chuẩn bị mang thai, các mẹ cũng cần quan tâm đến dịch nhờn tiết ra từ vùng kín, nếu quá nhiều và dịch có màu trắng ngà và mùi khó chịu hơn bình thường thì cũng là một dấu hiệu đáng lo ngại có liên quan đến bệnh phụ khoa.

Vệ sinh đúng cách để bước vào thai kỳ

Vệ sinh vùng kín trong thời gian chuẩn bị mang thai rất cần thiết để chuẩn bị cơ thể khỏe mạnh khi mang thai. Các mẹ cần lưu ý một số điểm sau đây:

-          Giữ vùng kín được khô ráo và thoáng mát. Không mặc đồ bó quá sát. Nên mặc đồ lót bằng cotton.

-          Vệ sinh ít nhất một ngày hai lần để phòng tránh vi khuẩn có hại gia tăng. Hoặc thay đồ lót cách nhau 4-5 tiếng trong ngày.

-          Khi đi vệ sinh, cần lưu ý làm sạch từ phía trước ra sau bằng khăn mềm hoặc giấy vệ sinh mềm để tránh gây thương tổn và làm lây lan vi khuẩn từ hậu môn đến âm đạo.

-          Không sử dụng vòi nước mạnh và thụt quá sâu vào âm đạo khi vệ sinh. Điều này vô tình làm mất đi những vi khuẩn có lợi và tạo điều kiện để vi khuẩn có hại xâm nhập

-          Không nên sử dụng xà phòng mạnh để vệ sinh vùng kín. Chọn các loại dung dịch tẩy rửa có độ pH thích hợp, tuy nhiên không quá lạm dụng.

-          Các mẹ chuẩn bị mang thai cần chú ý vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi quan hệ vợ chồng để hạn chế tối đa nguy cơ lây nhiễm.

Ngoài ra, kiểm tra và tiến hành xét nghiệm phụ khoa  định kì trong giai đoạn chuẩn bị mang thai để phòng tránh rủi ro viêm nhiễm vùng kín. Các mẹ cũng được khuyên nên thường xuyên vận động và có chế độ dinh dưỡng hợp lý để tăng sức đề kháng và khả năng miễn dịch để bước vào giai đoạn mang thai một cách khỏe mạnh nhất.

Nguồn: Giữ vệ sinh phụ khoa để chuẩn bị mang thai

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015

Những xét nghiệm cần thiết trước khi có con ở phụ nữ

Cả người vợ lẫn người chồng cần có những xét nghiệm để chắc chắn rằng cả hai đều khỏe mạnh, không bị một vấn đề gì làm ảnh hưởng đến việc mang thai.



Tiêm phòng ít nhất ba tháng trước khi mang thai

Trong ba tháng đầu thai kỳ, thai nhi có nguy cơ bị dị tật bẩm sinh rất cao. Vì vậy, trước tiên mẹ nên thử máu để kiểm tra xem mình đã miễn nhiễm hay có mắc những chứng bệnh nguy hiểm cho thai kỳ hay không. Nếu chưa miễn nhiễm thì mẹ chuẩn bị mang thai nên tiêm ngừa một số bệnh phổ biến như quai bị, viêm gan B, thủy đậu và sởi. Các mẹ có thể tiêm cùng lúc các loại vắc-xin này.

Kể cả chồng khi chuẩn bị mang thai cùng mẹ cũng nên tiến hành kiểm tra tương tự để đảm bảo cả hai đều khỏe mạnh trước khi thụ thai.

Thời điểm hai tháng trước khi mẹ mang thai

Bởi vì mẹ không thể tẩy giun trong giai đoạn thai kỳ nên vào thời gian chuẩn bị mang thai, bố cùng mẹ nên đến cơ sở y tế khám và tẩy giun. Giun sán sẽ gây hại cho sự phát triển và hấp thụ dưỡng chất của thai nhi. Do đó mẹ nên cùng các thành viên khác trong gia đình tẩy giun vào thời gian chuẩn bị mang thai này để ngăn ngừa khả năng lây chéo cho nhau.

Khi mẹ chỉ còn một tháng nữa là mang thai

Vào lúc này, cả hai vợ chồng nên đi kiểm tra sức khỏe toàn diện. Một số xét nghiệm bố mẹ chuẩn bị mang thai có thể làm trong lúc này là:

-          Các xét nghiệm về máu: mẹ có thiếu máuhay không, tiểu đường, chức năng gan thận, bệnh di truyền như máu không đông, HIV, viêm gan siêu vi B…

-          Xét nghiệm nước tiểu

-          Siêu âm ổ bụng giúp mẹ hiểu tình trạng và giúp phát hiện bất thường ở các nội tạng trong cơ thể mẹ như gan, lách, tụy, thận, tử cung, buồng trứng.

-          Các bác sĩ chuyên khoa sẽ tư vấn cho mẹ chuẩn bị mang thai trong từng trường hợp cụ thể.

-          Đo điện tâm đồ giúp mẹ biết được các bệnh về tim nếu có.

-          Kiểm tra phụ khoa: điều này rất quan trọng trong quá trình chuẩn bị mang thai vì nó quyết định đến khả năng thụ thai của cả hai vợ chồng..

Ngoài những bước kiểm tra sức khỏe đã chia sẻ ở trên, các mẹ và bố cũng cần chú ý từ bỏ những thói quen có hại như hút thuốc hay uống đồ có cồn trong giai đoạn mẹ chuẩn bị mang thai. Đồng thời, mẹ nhớ thực hiện chế độ ăn uống cân bằng, đặc biệt là bổ sung sắt từ sữa Anmum Materna để tạo nền tảng dinh dưỡng cho thai nhi hình thành và phát triển khỏe mạnh.

Nguồn: Những xét nghiệm, kiểm tra cần thiết trước khi mang thai

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2015

Vitamin C từ cam - da sáng dáng sinh cho mẹ bầu

Cam là nguồn cung cấp vitamin C tuyệt vời, nhưng mẹ có biết rằng loại quả này còn chứa rất rất nhiều các chất dinh dưỡng khác giúp mẹ và em bé luôn khỏe mạnh, tràn đầy năng lượng? Mẹ có thể cắt miếng, ép lấy nước, làm mứt hay sốt cam... và nhiều cách khác nữa để đưa cam trở thành món ngon quen thuộc trong chế độ ăn uống của mình. Dưới đây sẽ là một số những lợi ích tuyệt vời từ trái cam mẹ cần biết khi chuan bi mang thai can biet hoặc đang mang thai. Mẹ hãy 'tận dụng' loại 'siêu thực phẩm' rất phổ biến này trong và sau thời kỳ mang thai để luôn tràn đầy năng lượng nhé! 
 
 

1. Nước và độ ẩm.
Duy trì độ ẩm cơ thể rất cần được chú ý khi mẹ đang mang bầu và cam là thực phẩm cung cấp cho mẹ một lượng lớn nước vì thành phần chính của nó là nước, chiếm tới 88% và kali cùng một lượng nhỏ natri trong cam có tác dụng tuyệt vời trong việc giữ cân bằng độ ẩm của cơ thể.
Nếu mẹ chán với những miếng cam thông thường, hãy đổi sang một món mới xem. Gọt vỏ 3 quả cam, vắt lấy nước 2 quả, quả còn lại cắt nhỏ, sau đó mẹ xếp vào khuôn làm kem, đổ nước ép vào khuôn sau đó để lạnh qua đêm là mẹ đã có những que kem cam tuyệt ngon rồi.
2. Vitamin C - rất cần thiết với sức khỏe mẹ mang thai
Nhắc đến cam chắc hẳn chị em nào cũng nghĩ ngay đến vitamin C. Trong cam có hàm lượng vitamin C tương đối lớn giúp tăng cường khả năng miễn dịch cũng như tăng khả năng hấp thu sắt và kẽm trong thực phẩm, đây là hai chất rất quan trọng trong việc tăng cường hệ thống miễn dịch của mẹ.
Tuy nhiên, đó mới chỉ là một trong những tác dụng của cam. Nhiều bằng chứng khoa học cho thấy vitamin C có trong cam giúp cho em bé của mẹ luôn khỏe mạnh. Nghiên cứu cho thấy nếu mẹ bổ sung nhiều vitamin C trong quá trình mang thai sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh dị ứng, thở khò khè ở trẻ sơ sinh cũng như hỗ trợ tối đa cho sự phát triển não bộ của bé.
Vitamin C là loại vitamin tan trong nước. Nếu đưa quá nhiều vitamin C vào cơ thể, lượng dư thừa sẽ được thải ra qua đường nước tiểu. Vì thế mẹ đừng nên ăn quá nhiều cam cùng một lúc rồi hôm sau không ăn quả nào. Các bác sĩ khuyên mẹ bầu nên ăn cam thường xuyên để hấp thu được hoàn toàn các dưỡng chất từ cam.
3. Và sau khi bé yêu được sinh ra...
...Mẹ cũng đừng ngừng ăn cam. Đây vẫn là một nguồn giàu chất dinh dưỡng và chất chống oxy hóa giúp giữ làn da của mẹ khỏe mạnh và bảo vệ da khỏi các dấu hiệu lão hóa. ""Siêu trái cây"" này có chứa carotenoid, hỗ trợ việc hình thành và sửa chữa các tế bào da và polyphenol giúp loại bỏ các gốc tự do gây ra quá trình lão hóa. Vitamin C trng cam cũng giúp tổng hợp collagen, cung cấp độ đàn hồi và hỗ trợ cho làn da của mẹ.
Ngoài ra, cam và các loại quả thuộc họ cam là thực phẩm cung cấp sữa mẹ tuyệt vời. Đây là một thực phẩm tuyệt vời nhất để bổ sung năng lượng cho những bà mẹ mới sinh. Vì phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ cần cung cấp nhiều vitamin C thậm chí hơn cả những mẹ đang mang thai. Mẹ không cần tốn thời gian ngồi xuống để ăn bữa ăn nhẹ. Hãy uống một ít nước cam, chắc chắn mẹ sẽ được cung cấp đầy đủ vitamin C cho một ngày và thậm chí còn được bổ sung một lượng canxi từ loại thức uống này.
Cam cũng là thực phẩm rất tốt cho những mẹ muốn nhanh lấy lại dáng sau sinh. Cam không có chất béo và chỉ số đường huyết thấp, chứa nhiều nước và ít calo. Thêm vào đó, cam có chứa lượng đường thấp hơn các loại trái cây khác nhưng lại nhiều chất xơ, sẽ giúp mẹ no lâu hơn.
Lưu ý khi ăn cam
Cam rất tốt cho mẹ nhưng có một số điều mẹ nên lưu ý khi sử dụng loại thực phẩm này. Mẹ nên sử dụng cam tươi là tốt nhất, vắt lấy nước uống và có thể pha đường tùy theo sở thích của mỗi người, cách này vừa nhanh, đơn giản mà mẹ vẫn thấy ngon miệng. Nước cam tốt nhất nên uống vào lúc không no, không đói, tức sau khi ăn từ 1-2 tiếng. Nếu uống nước cam khi vừa ăn sáng xong sẽ rất dễ bị tức bụng, còn nếu mẹ bầu uống vào buổi tối muộn thì dễ bị đi tiểu đêm.
Các mẹ nên tránh uống các loại nước cam đóng hộp vì chúng dễ pha chế thêm đường hóa học. Hơn nữa trong quá trình vận chuyển, bảo quản, một số hộp nước hoa quả có thể dễ bị nhiễm khuẩn, nếu sử dụng sẽ không tốt cho cả mẹ và thai nhi.
Nếu mẹ bầu đang bị viêm loét dạ dày, tá tràng thì không nên uống nước cam, vì nó chứa rất nhiều chất hữu cơ làm tăng axit trong dạ dày, gây ra chứng ợ nóng và làm chứng viêm loét nặng thêm. Ngoài ra nước cam có tác dụng nhuận tràng nên nếu mẹ bị tiêu chảy thì nên pha loãng nước cam nguyên chất với nước và uống từng chút một thôi nhé. - Theo Anmum Việt Nam

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

Chăm sóc bà bầu sau khi sinh như thế nào?

Sau khi sinh, đôi khi các bà mẹ trẻ sẽ bối rối trước rất nhiều lời khuyên về việc ăn uống, vận động, kiêng cữ của những người lớn tuổi xung quanh. Vậy bạn cần làm gì cho đúng?

Mách bạn về dinh dưỡng bé 1 tuổi từ rau củ từ Dumex Việt Nam

Ngoài việc cham soc con, hãy chú ý chăm sóc mẹ bầu sau khi sinh để sức khỏe nhanh chóng hồi phục.



Vệ sinh:

Trong thời gian đầu mới sinh, bạn không nên ngồi nhiều để gây lực ép lên các mũi khâu, nên vệ sinh chỗ khâu sạch sẽ bằng nước ấm sau khi đi vệ sinh.

Nếu cho con bú, bạn có thể bị đau quặn ở bụng. Đó là do tử cung co thắt để trở lại kích thước bình thường, đây là một dấu hiệu cho thấy sự co hồi tử cung tốt. Cơn đau này có thể kéo dài nhiều ngày.

Ban đầu tiểu tiện sẽ khó khăn vì đau, tuy nhiên bạn không nên nhịn mà cố đi tiểu càng sớm càng tốt, trong những ngày đầu bạn sẽ đi tiểu nhiều hơn vì cơ thể bạn tháo đi nước dư tích lại trong lúc mang thai. Nếu bị táo bón, bạn nên hỏi bác sĩ để được dùng thuốc nhuận tràng.

Sau khi sinh, bạn sẽ thấy dịch chảy ra ngoài âm hộ. Những ngày đầu thường nhiều và có màu đỏ tươi, sau 4-5 ngày sẽ giảm dần với màu nâu và hết trước 2 tuần hậu sản. Tuy nhiên, ở tuần thứ 2-3 bạn có thể thấy ra chút huyết đỏ tươi từ âm đạo khoảng 1-2 ngày. Đó là kinh nan , được coi như một hiện tượng sinh lý bình thường.

Còn kỳ kinh thực sự đầu tiên sau khi sinh thường kéo dài hơn và ra màu nhiều hơn bình thường. Nếu bạn cho con bú, kỳ kinh đầu tiên thường có khi 6-8 tháng sau hoặc có thể đến khi bạn cai sữa cho bé. Nếu bạn cho bé bú bình, kỳ kinh đầu thường có vào khoảng tuần thứ 4-6 sau khi sinh.

Đi lại nhiều và rèn luyện cơ thể

Nghỉ ngơi là việc rất quan trọng sau sinh, tuy nhiên, bạn nên vận động càng sớm càng tốt khi có thể với nguyên tắc không quá sức. Đi lại sớm sẽ giúp khởi động nhu động ruột, bạn dễ tiểu tiện, sản dịch mau ra và tử cung co hồi tốt hơn.

Ngay từ ngày thứ nhất khi nằm trên giường, bạn có thể gập lên thả xuống bàn chân ở khớp mắt cá, việc này sẽ làm giảm sưng chân và giúp máu lưu thông tốt hơn.

Sau tuần thứ 2, bạn có thể tập nhẹ nhàng các động tác cho cơ bụng, tuy nhiên nếu bạn sinh mổ thì chỉ bắt đầu tập khi vết khâu đã lành hoàn toàn và phải ngưng tập nếu còn cảm giác đau.

Chế độ dinh dưỡng

Trong 6 tháng đầu, nếu bạn cho con bú thì mức năng lượng nhu cầu là 2750 Kcal/ngày, còn cao hơn cả lúc có thai. Như vậy, năng lượng tăng thêm mỗi ngày là 550 Kcal, trong đó 2 thành phần đáng lưu ý nhất là protein (chất đạm) và calci. Nhu cầu Protein tăng thêm mỗi ngày là 28gr, gần gấp đôi nhu cầu dinh dưỡng khi mang thai. Còn lượng Calci cần là 1000mg/ngày, gấp đôi nhu cầu bình thường. Ngoài ra, các vitamin A, B, C, PP cũng cần tăng đôi chút.

Để đáp ứng được nhu cần tăng như trên, hàng ngày bạn cần ăn thêm: 1-2 bát cơm (2 bát cơm tương đương 100g mì, 250g phở hay 300g bún); 50-100g thịt heo, bò, gà (tương đương khoảng 100-200gr tôm, cá); 1-2 ly sản phẩm dinh dưỡng; rau xanh và trái cây tươi.

Để có đủ sữa cho bé bú, bạn không nên ăn thức ăn quá khô và ram mặn, nên ăn đủ nước canh, nước soup, uống sữa khoảng 1-2 lít/ngày. Dù bạn không cho con bú thì trong tháng đầu sau sanh vẫn nên ăn uống đầy đủ như trên để cơ thể mau phục hồi sau một cuộc vượt cạn.
Những điều trên là rất cần thiết cho các mẹ bầu giai đoạn sau sinh, để có thể phục hồi sức khỏe tốt nhất cho bà bầu và được cung cấp các dưỡng chất tốt nhất để chăm sóc con của mình trong thời gian những tháng sắp tới.

Ngoài ra nếu có bất kỳ vấn đề nghiệm trọng và bất thường bạn nên đến bác sĩ chuyên khoa để được hỗ trợ kịp thời

Theo: http://www.giadinhenfa.com.vn/cham-soc-me-sau-khi-sinh.html

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

Dinh dưỡng thai kỳ cho phụ nữ

Nhu cầu dinh dưỡng cho mẹ bầu khi mang thai là một vấn đề tối quan trọng và cần được quan tâm qua từng giai đoạn phát triển và hình thành bào thai. Một chế độ dinh dưỡng hợp lý giúp bé phát triển khỏe mạnh.

Chế độ dinh dưỡng bà bầu có vai trò quan trọng quyết định đối với sự phát triển của trẻ sơ sinh. Nhiều nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa khẩu phần ăn của mẹ và sự phát triển của trẻ sơ sinh.

Thông tin về thực đơn dinh dưỡng cho trẻ từ Dumex Việt Nam



Những trường hợp mẹ bầu bị thiếu ăn hoặc ăn uống kiêng khem không hợp lý có nhiều nguy cơ sinh ra bé có cân nặng thấp dưới 2500g. Ngoài ra, nếu người mẹ tăng cân tốt, sẽ tích lũy được khoảng 4kg mỡ, tương đương 36000 kcal, là nguồn dự trữ để sản xuất sau khi sinh.

Nhu cầu dinh dưỡng gia tăng do việc hình thành thai nhi, bánh nhau, gia tăng các mô cho mẹ và cho việc tăng chuyển hóa cơ bản của mẹ 4.8% do đó người phụ nữ có thai cảm thấy nóng (3-6 tháng đầu: phát triển tử cung, các mô của mẹ, và 7-9 tháng sau: phát triển thai nhi và bánh nhau).

Quá trình mang thai khối lượng máu tăng 50% dẫn đến tăng nhu cầu chất đạm, sắt, acid folic, vitamin B6… Do vậy mẹ bầu cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng.

DINH DƯỠNG 3 THÁNG ĐẦU

Trong 3 tháng đầu khi mang thai, thường có sự thay đổi về khẩu vị và nôn ói do tăng hormon nên có thể việc ăn uống bị hạn chế. Thế nhưng, trong 3 tháng đầu, nhu cầu dinh dưỡng không tăng hơn so với trước khi mang thai. Phôi phát triển Bình thường nhờ dưỡng chất lấy từ dự trữ của mẹ. Lượng dưỡng chất cần thiết không lớn vì phôi còn nhỏ và cơ thể mẹ đáp ứng được. Chỉ khi dự trữ của mẹ cạn kiệt, mẹ suy kiệt do ăn rất ít kéo dài mới gây ảnh hưởng đến thai nhi.

Để ngăn ngừa triệu chứng nghén ở phụ nữ trong giai đoạn này, có thể áp dụng một số cách như sau:

1. Ăn bữa nhỏ, bữa phụ giàu dinh dưỡng mỗi 2 giờ.

2. Ăn các loại trái cây, thức ăn lỏng như sữa, phở, cháo, miến…

3. Tránh thức ăn nhiều gia vị, dầu mỡ… gây khó chịu.

4. Uống nước ngoài bữa ăn, tranh uống ngay trước, trong và ngay sau ăn.

5. Có thể bổ xung đa sinh tố, vi lượng mà không nên uống thuốc chống ói.

DINH DƯỠNG 6 THÁNG CUỐI

Giai đoạn 6 tháng cuối, nhu cầu dinh dưỡng tăng 10-30%. Lúc này các triệu trứng nghén giảm hoặc mất đi, thai phụ tăng cảm giác ngon miệng, lượng ăn vào tăng, đáp ứng đủ cho nhu cầu năng lượng và các dưỡng chất. Hơn nữa, cơ thể còn có những đáo ứng thích nghi như thai phụ lúc này ít hoạt động hơn, năng lượng tiêu hao cơ bản giảm, dạ dày và ruột hấp thu dưỡng chất cần thiết hiệu quả hơn cũng góp phần đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng...

Năng lượng:

nhu cầu khuyến nghị ở 6 tháng cuối là 2.550 kcal/người, nghĩa là tăng hơn so với người Bình thường là 350 kcal. Chỉ cần uống thêm 2 ly sữa, 2 chén cơm hoặc ăn thếm 2-3 bữa phụ như khoai, bắp, chè, bánh… cũng đủ đáp ứng nhu cầu này.

Chất đạm (protein):

Do nhu cầu chất đạm tăng lên để tống hợp protein cho cơ thể mẹ như tăng lượng máu, tử cung… đồng thời cung cấp protein cho thai nhi và Nhau thai hình thành và phát triển, nên phụ nữ mang thai cần được cung cấp tối thiểu 70g protein/ngày, cao hơn người Bình thường 15g/ngày. Chỉ cần 70g đậu các loại cũng đủ cung cấp nguồn protein 15g / ngày hoặc hai chén cơm thêm sẽ cung cấp thêm được 9g protein / ngày.

Vitamin, khoáng chất và yếu tố vi lượng:

Calci: khi mang thai, cơ thể mẹ cần lường calci gấp đôi Bình thường (1.000mg calci/ngày) đế đáp ứng quá trình hình thành răng và xương thai nhi. Nếu việc cung cấp calci trong thai kỳ không đầy đủ, cơ thể dẫn đến các triệu chứng vọp bẻ, đau mỏi cơ ở phụ nữ mang thai nhất là 3 tháng cuối, và dẫn đến tình trạng loãng xương, hư răng ở mẹ sau sinh.


Đối với thai, lượng calci cung cấp không đủ sẽ ảnh hưởng đế việc tạo xương và các mầm răng ngay trừ trong giai đoạn bào thai, gây nên những khiếm khuyết về xương và răng có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành. Trẻ sinh ra dã có dấu hiệu thiếu calci như mềm hộp sọ, thóp trước và thóp sau rộng, tre có các cơn Khóc tím tái do co thắt, thậm chí bị co giật do hạ calci huyết.

Nhu cầu calci của phụ nữ có thai khó có thể đạt được nếu không uống Sữa vì Sữa là nguồn cung cấp calci dồi dào và dễ hấp thu nhất. Một ngày chỉ cần 2 ly Sữa hoặc 100 -200g cá, tép nhỏ ăn cả vỏ cả xương hoặc cá chiên xù, cá lớn kho rục xương, cá hộp, 50g mè… là đủ cung ứng nhu cầu calci cho thai phụ.

Sắt:

nhu cầu tăng cao để đáp ứng với sự phát triển bào thai trong tiến trình thai nghén và nguy cơ mất máu lúc chuyển dạ. Thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ mang thai làm tăng nguy cơ tử vong đối với thai nhi như sinh non, sảy thai, thai chết lưu, chậm phát triển bào thai trong tử cung. Thiếu máu thiếu sắt được xem là liên quan đến ¼ trường hợp tử vong mẹ có liên quan đến thai sản, làm gia tăng các tai biến sản khoa nhất là tai biến do xuất huyết sau sinh.


Nhu cầu sắt trong khẩu phần là 30-40 mg/ngày có thể được cung cáp từ những thức ăn giàu chất sắt như thịt, phủ tạng động vật (tim, gan, thận, huyết…), lòng đỏ trứng, cá, thủy sản và đậu đỗ… Ngoài tăng cường thức ăn giàu chất sắt, có thể sử dụng viên sắt bổ sung đều đặn mỗi ngày hoặc các sản phẩm dinh dưỡng đặc biệt có bổ sung thêm sắt và acid folic như sản phẩm dinh dưỡng.

Acid folic (vitamin B9): cần thiết cho sự phát triển hệ thần kinh trung ương của thai, đặc biệt trong những tuần lễ đầu tiên. Thiếu acid folic ở phụ nữ mang thai có thể gây ra dị tật ống thần kinh ở trẻ em. B9 có nhiều trong gan, men bia, các loại rau xanh lá to, màu xanh đậm: mồng tơi, rau tần ô, đậu phộng, hạt dẻ, đậu, ngũ cốc, thịt, sữa…

Ngoài ra một chế độ ăn hợp lý đa dạng sẽ giúp cơ thê người mẹ có đầy đủ các loại vitamin cần thiết giúp cho sự cân bằng của cơ thể và thai nhi phát triển tốt.

Iod và kẽm:

Việc thiếu hụt các chất dinh dưỡng này có thể gây nên một số các tổn thương không phục hồi được. Thiếu hụt kẽm dẫn đến chậm hoặc ngừng tăng trưởng, dị tật bẩm sinh, làm gia tăng các triệu chứng nghén như Nôn ói, chán ăn.

Kẽm có nhiều trong thức ăn động vật màu đỏ và nhuyễn thể, đặt biệt hàu chứa 75mg kẽm/100g.

Thiếu Iod là nguyên nhân gây nên các bệnh đần độn, bướu cổ, chậm phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần. Trong tự nhiên iod có nhiều trong các loại hải sản, rong biển.

Qua những thông tin trên cho chúng ta thấy được nhu cầu dinh dưỡng của bà mẹ khi mang thai cần bổ sung rất nhiều dưỡng chất quan trọng. Do đó các mẹ bầu cần trang bị những kiến thức về dinh dưỡng thật phong phú và hợp lý để có thể cung cấp cho con mình nguồn dinh dưỡng tốt nhất giúp cho sự hình thành và phát triển của thai nhi.

Bài viết tổng hợp từ:
http://www.giadinhenfa.com.vn/che-do-dinh-duong-cua-phu-nu-co-thai.html